Mùa xuân năm 1930,
Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập. Tại Hội nghị thành lập Đảng đã thông qua
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo xác
định mục
tiêu và con đường của cách mạng Việt Nam: “Làm
tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”1. Từ đường lối chiến lược đó, hơn 95
năm qua, Đảng ta vẫn luôn kiên định con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, thời gian qua, nhiều đối tượng phản động đã tìm cách xuyên tạc con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhằm xóa bỏ mục tiêu xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tiễn lịch sử cách mạng nước ta, từ năm 1930 đến
nay đã khẳng định sự lựa chọn mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của
Đảng là duy nhất và xuyên suốt trong mọi hoàn cảnh lịch sử. Những thắng lợi của
Đảng ta trong quá trình lãnh đạo toàn dân đấu tranh giải phóng dân tộc, thống
nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa đều bắt nguồn từ mục tiêu và động lực ấy.
1. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận con
đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Lợi dụng sự sụp đổ
của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cuối những năm 80 đầu những năm 90 của
thế kỷ XX; lợi dụng một số sai lầm của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo
cách mạng Việt Nam ở một số thời điểm, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cho rằng:
mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ chứng tỏ chủ nghĩa Mác -
Lênin đã lỗi thời, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dựa trên nền tảng
tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm, là duy ý chí. Họ cho rằng, học
thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác chỉ là một mớ lý thuyết suông về một
chủ nghĩa xã hội không tưởng, không bao giờ thực hiện được. Do vậy, sự sụp đổ của
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự
cáo chung đã được báo trước. Có ý kiến lại cho rằng trong điều kiện hiện
nay, khi cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, văn minh tin học, kinh tế tri thức,
kinh tế số, toàn cầu hóa phát triển thì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không
còn phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.
Hay Việt Nam chỉ cần duy trì độc lập dân tộc mà không cần định hướng xã hội chủ
nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền
tảng dân chủ, “xã hội dân sự”. Lợi dụng một số hạn chế, khuyết điểm trong
công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đặc biệt là hiện tượng tham nhũng,
lãng phí, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian qua, các thế lực
thù địch rêu rao rằng: những sai lầm, khuyết điểm, vấn đề tham nhũng, tiêu cực
là bản chất của chủ nghĩa xã hội, do hệ quả của việc lựa chọn con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội mang lại.
2. Đấu
tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch phủ nhận con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trước hết, cần khẳng định đây là những
luận điệu xuyên tạc, một trong những thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch
trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Những ý kiến, luận điểm chúng đưa ra là phản
khoa học, sai lầm, phiến diện nhằm xuyên tạc bản chất của chế độ xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thủ tiêu
chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Đi lên
chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng
Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của
lịch sử"2. Đó là sự lựa chọn
có căn cứ khoa học, do lịch sử quy định và được kiểm nghiệm bằng thực tiễn.
Thứ nhất, cuộc đấu tranh giành độc lập của
dân tộc Việt Nam không thể giành thắng lợi nếu không đi theo con đường cách mạng
vô sản.
Ngay từ khi thực
dân Pháp nổ tiếng súng đầu tiên xâm lược nước ta (năm 1858) đến những năm 20 của
thế kỉ XX, hàng trăm cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh chống Pháp theo lập
trường phong kiến và khuynh hướng dân chủ tư sản vì mục tiêu giành độc lập dân
tộc đã diễn ra nhưng cuối cùng đều thất bại. Nguyên nhân chính dẫn đến sự thất
bại của các cuộc đấu tranh là do thiếu đường lối chính trị đúng đắn, thiếu một
tổ chức cách mạng và thiếu một lực lượng tiên tiến lãnh đạo. Con đường cứu nước,
giải phóng dân tộc Việt Nam lâm vào khủng hoảng, bế tắc. Trong bối cảnh đó, người
thanh niên Nguyễn Tất Thành sau gần 10 năm bôn ba đã tìm được con đường cứu nước
mới khác với các lớp cha anh đi trước. Người khẳng định: “Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc, không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”3.
Năm 1923, trong truyền đơn cổ động mua báo Người cùng khổ
Nguyễn Ái Quốc viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới cứu nhân loại,
đem lại cho mọi người không phân biệt chủng tộc” và “không có chế độ
nào tôn trọng con người, chủ ý xem xét những lợi ích cá nhân đúng
đắn và đảm bảo cho nó được thoả mãn bằng chế độ xã hội chủ nghĩa”4.
Tiếp đó, Nguyễn
Ái Quốc tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối giải
phóng dân tộc vào Việt Nam nhằm chuẩn bị các điều kiện về tư tưởng, chính trị
và tổ chức cho sự ra đời của đảng cộng sản ở Việt Nam.
Tiến trình cách mạng Việt Nam cho thấy, trong quá trình lãnh đạo đấu tranh
giành chính quyền, Đảng ta luôn xác định giải phóng dân tộc là nhiệm vụ, mục
tiêu chiến lược, chủ yếu, trước mắt của cách mạng nước ta. Theo đó, Đảng đã
lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng tháng Tám thành công (năm 1945)
giành độc lập dân tộc, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là thắng lợi
đầu tiên của dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, mở ra kỷ nguyên mới,
kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thứ hai, độc lập
dân tộc phải gắn liền với chủ nghĩa xã hội vì độc lập dân tộc là điều kiện tiên
quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là cơ sở, điều kiện để đảm
bảo vững chắc cho độc lập dân tộc.
Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ gắn bó mật thiết, thống
nhất biện chứng với nhau. Độc lập dân tộc là sự không lệ thuộc, không phụ thuộc,
không chịu sự chi phối, điều khiển từ bên ngoài; là việc bất khả xâm phạm của
quốc gia trên tất cả các lĩnh vực; là quyền tự quyết định tương lai, vận mệnh của
chính dân tộc mình. Mô hình chủ nghĩa xã hội mà chúng ta đang xây dựng là xã hội
do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất
công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển cao,
dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền
văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam
bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển… Do đó, giữ vững
mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là điều kiện bảo đảm thắng
lợi của cách mạng nước ta.
Quá trình Đảng ta
lãnh đạo nhân dân tiến hành hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ giai đoạn 1945-1975 đã thể hiện rất rõ sự kết hợp chặt chẽ giữa độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng ta
đã đề ra và thực thi nhất quán đường lối kháng chiến kiến quốc.
Đường lối này phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện đất nước ta lúc bấy giờ, phù hợp
với quy luật phát triển của lịch sử dân tộc: dựng nước đi đôi với giữ nước, bảo
vệ độc lập dân tộc và từng bước xây dựng chế độ mới. Đại hội Đại biểu toàn quốc
lần thứ II của Đảng (02/1951) khẳng định: “Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
Việt Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội... cách mạng Việt
Nam không thể đi con đường nào khác ngoài con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội”5.
Nhờ sự linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, biện pháp nhưng kiên định mục tiêu lý
tưởng, nguyên tắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã lãnh đạo nhân
dân khắc phục khó khăn, khôi phục, cải tạo kinh tế, xã hội, văn hóa; đồng thời
từng bước đánh bại các kế hoạch chiến tranh của Pháp. Cuộc kháng chiến chống
Pháp kết thúc thắng lợi bằng chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Hiệp định
Giơnevơ được ký kết nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền với hai
chế độ chính trị khác nhau. Sự sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta
giai đoạn 1954-1975 chính là việc đề ra và thực hiện đồng thời hai chiến lược
cách mạng ở hai miền đất nước: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng
dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình, thống nhất Tổ quốc.
Chính nhờ đường lối đó, chúng ta đã giải quyết tốt các mối quan hệ giữa tiền
tuyến và hậu phương; giữa kháng chiến và kiến quốc; giữa dân tộc và thời đại.
Qua đó, tạo nên sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước.
Thứ ba, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải
phóng, đất nước thống nhất, Đảng tiếp tục lãnh đạo cả nước đi lên chủ nghĩa xã
hội. Trong giai đoạn hiện nay, cách mạng Việt Nam đang tiếp tục thực
hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa. Hai nhiệm vụ này có quan hệ mật thiết, hỗ trợ nhau: xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội là điều kiện, cơ sở để giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa và đem lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân
dân; độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc trong thời kỳ mới là phải bảo vệ chủ quyền thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh quốc gia, cảnh giác chống mọi âm mưu “diễn
biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ, xây dựng chế độ xã hội chủ
nghĩa. Nhiệm vụ này trở thành lý tưởng, niềm tin của mỗi người dân Việt Nam.
Nhờ kiên định mục tiêu, đường lối đó, sau gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đạt
được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển,
trở thành nước đang phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế mạnh mẽ và sâu rộng; kinh tế tăng trưởng cao và ổn định; quốc
phòng, an ninh được tăng cường; văn hóa, xã hội có bước phát triển mới; đời sống
nhân dân từng bước được nâng lên; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hệ thống
chính trị được củng cố; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và
chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và
đi vào chiều sâu. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng
được nâng cao. Việt Nam cũng được thế giới đánh giá cao về
hiệu quả thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Điển hình nhất là công tác
phòng, chống dịch covid-19, bảo vệ sức khỏe của nhân dân thời gian qua.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội
nhập quốc tế ngày càng được đẩy mạnh; tình hình an ninh - chính trị thế giới
thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường, đòi hỏi Đảng ta phải phân
tích, đánh giá đúng đắn các yếu tố tác động đến độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, từ đó đề ra các chính sách phù hợp nhằm tranh thủ thời cơ, khắc phục hạn
chế, biến thách thức thành thời cơ để phát triển. Đồng thời nêu cao quyết
tâm chính trị, kiên quyết xử lý nghiêm đối với hiện tượng tham nhũng, tiêu cực
ở một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh với tinh thần
“không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Với tinh thần thẳng thắn, Đảng ta xác
định, tham nhũng, tiêu cực là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của
Đảng và chế độ. Song, tham nhũng là “căn bệnh chung” của hầu hết các quốc gia
trên thế giới, không phải là “sản phẩm riêng” của chế độ xã hội chủ nghĩa, không phải là hệ quả của chế độ chủ nghĩa xã hội như
các thế lực đang tìm mọi cách tuyên truyền.
Tóm lại, độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội vừa là mục tiêu cơ bản, cốt lõi của cách mạng vừa là lợi ích căn bản
của quốc gia và là quan điểm nhất quán xuyên suốt của Đảng ta. Con đường đó đã
được Đảng và nhân dân ta lựa chọn, kiên trì đấu tranh, bảo vệ và giữ vững từ
năm 1930 đến nay. Tầm quan trọng sống còn của mục đích, nhiệm vụ chiến lược,
con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đối với dân tộc ta đã được kiểm
nghiệm; tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội đã được khẳng định trong thực tiễn lịch
sử cách mạng Việt Nam. Chỉ có kiên định mục tiêu độc lập dân
tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội mới có thể phát huy cao nhất sức mạnh dân
tộc, sức mạnh nội sinh nhằm giữ vững độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực đối với
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Tài liệu tham khảo:
4. Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H. 2002, t.1, tr.461.
|