Nghiên cứu khoa học > Các bài viết và sưu tầm   
           Nghiên cứu khoa học
Skip Navigation Links.

          Hỗ trợ online
 Liên hệ

          Liên kết website






          Thống kê sử dụng
Đã truy cập: 2009722
Đang online: 24

          Các bài viết và sưu tầm
Phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam trong kỷ nguyên mới
08/05/2025 4:45:10 CH

Giai cấp công nhân Việt Nam ra đời và phát triển gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược, xã hội Việt Nam vẫn là một xã hội phong kiến với hai giai cấp cơ bản là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân; duy trì nền kinh tế lạc hậu dựa vào sản xuất tiểu nông là chính, cơ sở kinh tế công nghiệp, dịch vụ chưa phát triển. Sau khi cuộc xâm lăng và bình định đã cơ bản hoàn thành, thực dân Pháp liền bắt tay tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ nhất với quy mô mở rộng ra cả nước. Các nhà máy rượu bia, vải sợi, điện nước, ngành đường sắt, hầm mỏ, đồn điền cao su, cà phê... lần lượt ra đời và cùng với đó đội ngũ những người công nhân Việt Nam đầu tiên được hình thành. Họ là những người nông dân bị tước đoạt hết ruộng đất, những người thợ thủ công bị phá sản buộc phải vào làm việc trong các doanh nghiệp tư bản Pháp. Theo số liệu thống kê trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, tổng số công nhân của Việt Nam khoảng trên 10 vạn người, chủ yếu tập trung ở một số thành phố lớn như: Hà Nội, Sài Gòn - Chợ Lớn, Hải Phòng và vùng mỏ Quảng Ninh...

Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, để bù đắp những tổn thất, thực dân Pháp đã tiến hành cuộc khai thác thuộc địa lần thứ hai với quy mô và tốc độ lớn hơn trước. Chúng tăng cường đầu tư vào các ngành khai khoáng, giao thông vận tải, đồn điền, công nghiệp chế biến, dệt may... nhằm tăng cường vơ vét và bóc lột ở các nước thuộc địa. Thời kỳ này, số lượng công nhân Việt Nam đã phát triển nhanh chóng lên đến trên 22 vạn người vào đầu năm 1929.

Dưới sự áp bức bóc lột hà khắc của thực dân, phong kiến, giai cấp công nhân Việt Nam đã đoàn kết, tổ chức tập hợp nhau lại đấu tranh đòi quyền lợi, dẫn đến hình thành các Hội Ái hữu, Hội Tương tế trong các nhà máy, xí nghiệp. Cuối năm 1920, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng đã vận động thành lập Công hội Ba Son ở Sài Gòn, mở đầu cho phong trào đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc.

Trong suốt quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước, giai cấp công nhân luôn là lực lượng nòng cốt, nền tảng của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững. Chính những cống hiến bền bỉ, trí tuệ và sáng tạo của người lao động góp phần làm nên những thành tựu đáng tự hào của Việt Nam. Đặc biệt là sau gần 40 năm đổi mới, trong đó có hơn 15 năm thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW, ngày 28-1-2008, về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bốn năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, công tác xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh đạt được những kết quả quan trọng: Giai cấp công nhân Việt Nam có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng, chất lượng, bước đầu hình thành đội ngũ công nhân trí thức, có tay nghề, kỹ năng cao, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Cho đến nay, công nhân nước ta đã có hơn 15 triệu người, chiếm khoảng 15% dân số, 29% lực lượng lao động xã hội, tạo ra gần 70% giá trị tổng sản phẩm xã hội. Công nhân, lao động nước ta có trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng lao động, tác phong công nghiệp ngày càng cao. Đến năm 2023, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 27,2%, trong đó trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm khoảng 17%, chủ yếu làm việc trong các lĩnh vực công nghệ cao, như dầu khí, điện lực, điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, tự động hóa, công nghệ hóa học, sinh học... (1). Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới, trình độ học vấn của công nhân, người lao động nước ta không ngừng được nâng cao. Công nhân, người lao động là lực lượng có khả năng sáng tạo trong sản xuất và đời sống xã hội, thích ứng nhanh với cơ chế mới và tiếp cận nhanh với khoa học tiên tiến, công nghệ hiện đại, có vai trò quan trọng quyết định tốc độ phát triển của nền kinh tế.

Giai cấp công nhân Việt Nam đã phát huy vai trò tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nòng cốt trong liên minh với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong thời kỳ đổi mới chính là đạt được hai mục tiêu chiến lược 100 năm: đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.  

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh còn những hạn chế, bất cập. Số lượng, chất lượng giai cấp công nhân, lao động nước ta chưa đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việc đào tạo, bồi dưỡng công nhân, người lao động còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Một bộ phận công nhân nước ta giác ngộ giai cấp và bản lĩnh chính trị còn thấp, không đồng đều; sự hiểu biết về chính sách, pháp luật còn nhiều hạn chế; chưa thiết tha phấn đấu vào Đảng, bàng quan, thờ ơ trước các sự kiện chính trị - xã hội, vận mệnh của dân tộc. Mặc dù các nghị quyết của Đảng đã nêu những quan điểm, giải pháp lớn để xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh nhưng chậm được thể chế hóa, cụ thể hoá, hoặc thực hiện chưa có hiệu quả, chưa thật sự đi vào cuộc sống. Một số thách thức mới đã được Tổng Bí thư Tô Lâm chỉ ra trong bài viết “Chuyển đổi số - Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”, đó là: “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, sự phát triển công cụ sản xuất trong nền kinh tế số tạo ra biến đổi sâu sắc trong lực lượng sản xuất, dẫn đến những mâu thuẫn mới với quan hệ sản xuất hiện hữu; vừa tạo tiền đề, động lực hình thành phương thức sản xuất mới trong tương lai, vừa đòi hỏi thay đổi căn bản cách thức tổ chức sản xuất và quản lý xã hội. Lực lượng sản xuất mới đang hình thành và phát triển mạnh mẽ; song chất lượng nguồn nhân lực vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong khi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực công nghệ cao, vẫn là thách thức lớn. Quan hệ sản xuất còn nhiều bất cập, chưa theo kịp sự phát triển của lực lượng sản xuất”. Sứ mệnh của giai cấp công nhân hiện đại không chỉ đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số mà còn là nhân tố chủ lực trong quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại - “phương thức sản xuất số”.

Trong bối cảnh mới của toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghệ 4.0, để bảo đảm giai cấp công nhân Việt Nam vượt qua những thách thức, sẵn sàng bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam hiện đại, lớn mạnh như trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định yêu cầu: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Để phát huy vai trò tiên phong trong kỷ nguyên mới, giai cấp công nhân Việt Nam cần phải:

Thứ nhất, tiếp tục khẳng định và giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về bản chất giai cấp công nhân của Đảng.

Thứ hai, có những chính sách nhằm phát triển giai cấp công nhân trong bối cảnh hiện nay thể hiện ở việc chú trọng xây dựng môi trường xã hội, giải phóng lực lượng sản xuất. Đặc biệt cần chú trọng đến chính sách việc làm, chính sách nhà ở, chính sách bảo hiểm, chính sách tiền lương, chính sách ưu đãi tuyển chọn, sử dụng và đãi ngộ, tôn vinh những công nhân có tay nghề giỏi… để tạo ra nhiều việc làm mới, thu hút ngày càng nhiều lao động vào làm việc.

Thứ ba, bản thân người công nhân cũng cần phát huy khả năng của mình trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, trong đó nổi bật là khả năng ứng dụng, thích nghi và làm chủ công nghệ mới. Họ cần tham gia thực hành tiết kiệm và là lực lượng tiên phong trong việc chống lãng phí.

Thứ tư, các cấp, ngành, địa phương cần chú trọng nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị cho công nhân, người lao động. Đặc biệt, cần tập trung tuyên truyền, giáo dục, giúp công nhân, người lao động nhận thức sâu sắc hơn nữa về giai cấp, về Đảng, về tổ chức công đoàn và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thứ năm, tổ chức Công đoàn Việt Nam phải đổi mới mạnh mẽ cả tổ chức, nội dung lẫn phương thức hoạt động, theo tinh thần Nghị quyết số 02-NQ/TW, ngày 12/6/2021, của Bộ Chính trị, “Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Công đoàn Việt Nam trong tình hình mới”. Trong đó, yêu cầu nổi bật là đa dạng hóa các hình thức vận động, tập hợp quần chúng, để ngày càng động viên, thu hút được đông đảo công nhân, người lao động trong các thành phần kinh tế gia nhập công đoàn và tự giác tham gia hoạt động công đoàn... Hoạt động của công đoàn phải hướng về cơ sở, lấy cơ sở làm địa bàn hoạt động, lấy công nhân, viên chức, người lao động làm đối tượng vận động; lấy chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, viên chức, người lao động làm mục tiêu hoạt động. Thông qua hoạt động công đoàn góp phần xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh, thực hiện tốt sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn mới, cùng dân tộc bước vào kỷ nguyên mới.

Thích ứng với kỷ nguyên phát triển mới - thời đại của hội nhập, chuyển đổi số và khát vọng vươn lên của dân tộc, công nhân Việt Nam cần phải có những thay đổi để khẳng định vai trò là lực lượng trụ cột trong sự phát triển kinh tế - xã hội; chủ động nâng cao kỹ năng nghề, đặc biệt là kỹ năng số và khả năng thích ứng với công nghệ mới. Không ngừng học tập, sáng tạo, tích cực tham gia vào Phong trào “Bình dân học vụ số”, làm chủ công nghệ để trở thành những “chiến sĩ tiên phong” trong kỷ nguyên số và trí tuệ nhân tạo./.

 

(1) https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/thong-tin-ly-luan/-/ 2018/1005802/ xay-dung-giai-cap-cong-nhan-viet-nam-hien-dai%2C-lon-manh.aspx

                                                 Th.s Phạm Bích Hoa

                                                  GVC, Phó Trưởng khoa Xây dựng Đảng


Các nghiên cứu khoa học   các bài viết và sưu tầm   khác  

CẢM THỨC MÙA HIẾN CHƯƠNG CÁC NHÀ GIÁO

Lòng biết ơn hay sự tri ân là nét đẹp văn hóa trong đời sống xã hội của không chỉ Việt Nam mà còn nhiều quốc gia - dân tộc trên thế giới. Tháng 11 về, khắp nơi lại chuẩn bị cho một mùa hiến chương mới, mùa Hiến chương của các nhà giáo. Đó là dịp để lớp lớp các thế hệ học trò khắp mọi miền Tổ quốc thể hiện sự tri ân đối với những người thầy giáo, cô giáo.




Chi tiết  
NGƯỜI THẦY HÔM NAY – HÀNH TRÌNH TỪ TRÁCH NHIỆM VÀ KHÁT VỌNG CỐNG HIẾN
Trong tâm thức người Việt Nam, hình ảnh người thầy luôn chiếm vị trí thiêng liêng và cao quý. Từ bao đời nay, dân tộc ta vẫn truyền tụng những câu ca dao, tục ngữ thể hiện lòng tôn kính đối với người dạy học: “Không thầy đố mày làm nên”, “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”.



Chi tiết  
NINH BÌNH - BẢN HÒA CA SAU HỢP NHẤT
Bài viết “Ninh Bình - Bản hòa ca sau hợp nhất” khắc họa hành trình sáp nhập và sự hòa quyện văn hóa - con người của vùng đất Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình trong một chỉnh thể thống nhất. Với những truyền thống hiếu học, đoàn kết, nhân văn, con người Ninh Bình hôm nay trở thành động lực của đổi mới và phát triển. Bộ máy chính quyền tinh gọn, hiệu quả cùng các lĩnh vực kinh tế, du lịch, văn hóa - xã hội đang khởi sắc mạnh mẽ. Bài viết tôn vinh tinh thần hòa hợp, khát vọng vươn lên và bản lĩnh xây dựng quê hương trong thời kỳ chuyển đổi số. Ninh Bình hiện lên như một bản hòa ca rực rỡ giữa quá khứ và tương lai, giữa đất và người.



Chi tiết  
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC CÁN BỘ TRONG TÁC PHẨM “SỬA ĐỔI LỐI LÀM VIỆC”

Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục cán bộ trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” là kim chỉ nam xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Người đề cao việc nâng cao đạo đức cách mạng - rèn luyện tinh thần phục vụ vô điều kiện và chống lại bệnh quan liêu, mệnh lệnh. Đồng thời, giáo dục phải nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ, kết hợp học tập với thực hành. Cốt lõi là thúc đẩy tự phê bình và phê bình một cách thẳng thắn để sửa chữa khuyết điểm, giúp cán bộ tiến bộ không ngừng và trở thành những người lãnh đạo, đầy tớ trung thành của Nhân dân.




Chi tiết  
PHÁT HUY VAI TRÒ XUNG KÍCH, SÁNG TẠO CỦA ĐOÀN THANH NIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH NINH BÌNH TRONG CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC, TỔNG KẾT THỰC TIỄN

Nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn là chức năng, nhiệm vụ quan trọng của trường chính trị cấp tỉnh, được quy định rõ trong Quy chế Nghiên cứu khoa học ban hành kèm theo Quyết định số 6468-QĐ/HVCTQG ngày 21/12/2021 của Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Quy định số 11-QĐ/TW ngày 19/5/2021 của Ban Bí thư về trường chính trị chuẩn. Thực hiện tốt nhiệm vụ trên có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đồng thời khẳng định vị thế, vai trò của các trường chính trị trong đời sống chính trị - xã hội ở địa phương.




Chi tiết  
GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH NINH BÌNH THẤM NHUẦN TƯ TƯỞNG CỦA V.I.LÊNIN: “HỌC, HỌC NỮA, HỌC MÃI”

Nhân dịp kỷ niệm 43 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2025), ngoài việc tôn vinh đội ngũ Nhà giáo - những người làm “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý”; đồng thời tích cực hưởng ứng việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Qua tư tưởng của V.I.Lênin:“ Học, học nữa, học mãi” tác giả đề xuất việc học tập, rèn luyện cho đội ngũ giảng viên Trường Chính trị tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay, góp phần hoàn thiện các tiêu chí trường chính trị chuẩn trong thời gian tới.




Chi tiết  
VAI TRÒ CỦA PHỤ NỮ TRONG GÌN GIỮ, PHÁT HUY VĂN HÓA GIA ĐÌNH VIỆT NAM THỜI KỲ HỘI NHẬP
Gia đình Việt Nam từ bao đời nay là nơi hội tụ và lan tỏa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp - thương yêu, nhân ái, hiếu nghĩa, thủy chung, đoàn kết. Bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng, cùng với những cơ hội phát triển là không ít những thách thức, khó khăn đối với việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.



Chi tiết  
CẬP NHẬT THỰC TIỄN MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP TRONG GIẢNG DẠY CHƯƠNG TRÌNH TRUNG CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Ở TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH NINH BÌNH

Chương trình Trung cấp lý luận chính trị giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, góp phần hình thành bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực thực tiễn cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở...




Chi tiết  
NHỮNG CÂU CHUYỆN THỂ HIỆN TÌNH CẢM CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH DÀNH CHO PHỤ NỮ VIỆT NAM

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, coi trọng và đánh giá cao về vị trí, vai trò của phụ nữ trong xã hội. Người cũng dành những tình cảm, những lời lẽ đẹp nhất khi nói về phụ nữ. Mỗi câu chuyện cảm động, mỗi lời căn dặn ân cần của Bác dành cho phụ nữ chính là những bài học sâu sắc để phụ nữ Việt Nam thêm trân trọng, học tập và noi theo.




Chi tiết  
BÌNH DÂN HỌC VỤ SỐ - SỨ MỆNH MỚI CỦA TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH NINH BÌNH
Ngay sau Cách mạng Tháng Tám, phong trào “Bình dân học vụ” đã trở thành chiến dịch cách mạng vĩ đại, góp phần xóa mù cho hơn 2,5 triệu người dân Việt Nam chỉ trong vài năm. Đó không chỉ là một phong trào giáo dục, mà còn là bước đi chiến lược nhằm nâng cao dân trí, bồi đắp sức mạnh đại đoàn kết, tạo nền tảng để Nhân dân làm chủ đất nước...



Chi tiết  

[1] 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32

          Tìm kiếm nhanh
Từ ngày
Đến

          Thư viện ảnh